Chủ nhật, ngày 21-09-2014
Công cụ làm việc cá nhân


Tổng quan quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc

A. Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao : 22/12/1992
B. Những mốc lớn trong quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc
- Vào khoảng thế kỷ thứ 12-13, khi nhà Trần lên thay nhà Lý, một hoàng tử của Triều Lý là Lý Long Tường đã sang Hàn Quốc và định cư tại đây.
- Từ 1975-1982, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian.
- Từ 1983 Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi chính phủ.
- Ngày 20/4/1992, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận trao đổi Văn phòng liên lạc giữa hai nước.
- Ngày 22/12/1992, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ.

C. Trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước
1. Các đoàn cấp cao Việt Nam thăm Hàn Quốc (theo mốc thời gian) :
- Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (tháng 02/1993)  
- Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt (tháng 5/1993)
- Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười (tháng 4/1995)
- Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (tháng 3/1998)
- Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (tháng 8/2000)
- Chủ tịch nước Trần Đức Lương (từ 22-25/8/2001), cùng Tổng thống Hàn Quốc Kim Te Chung ra Tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác mới là "Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21"
- Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (từ 29/8-02/9/2002)
- Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải (từ 15-19/9/2003)
- Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Phan Diễn (từ 27/10-01/11/2003)
- Nguyên Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt (tháng 12/2003)
- Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (tháng 6/2004)
- Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (21-25/7/2004)
- Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (2-5/5/2005)
- Chủ tịch nước Trần Đức Lương dự Hội nghị APEC-13 tại Hàn Quốc tháng 11/2005, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Tổng thống Rô Mu Hiên
- Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng thăm làm việc tại Hàn Quốc (từ 21-24/5/2007)
2. Các đoàn cấp cao Hàn Quốc thăm Việt Nam (theo mốc thời gian):
- Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lee Sang Ok (ngày 22/12/1992, cùng Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm ký Tuyên bố chung thiết lập Quan hệ Ngoại giao cấp Đại sứ)
- Bộ trưởng Ngoại giao Han Sung Joo (tháng 5/1994)  
- Thủ tướng Lee Young Dug (tháng 8/1994)  
- Bộ trưởng Ngoại giao Gong Ro Myong (tháng 7/1996)
- Chủ tịch Quốc hội Kim Soo Han (tháng 8/1996)
- Tổng thống Kim Young Sam (tháng 11/1996)
- Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Park Chung Soo (tháng 7/1998)
- Tổng thống Kim Te Chung (tháng 12/1998, thăm chính thức Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao ASEAN+3  tại Hà Nội)
- Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Hong Soon Young (tháng 7/1999)
- Thủ tướng Ly Han Dong (từ 08-11/4/2002)
- Chủ tịch Quốc hội Pac Quan Yêng (từ 30/9-04/10/2003)
- Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại Yun Yêng Quan (từ 24-26/12/2003)
- Tổng thống Rô Mu Hiên (10-12/10/2004)
- Thủ tướng Li He Chan (19-21/4/2005)
- Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki (14-18/1/2006)
- Tổng thống Rô Mu Hiên dự Hội nghị APEC-14 tại Hà Nội, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngày 17/11/2006.

D. Tình hình quan hệ hiện nay:
1. Về chính trị:
Hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao và các cấp, các ngành đã giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường quan hệ hợp tác song phương. Hai bên dã thỏa thuận xây dựng  quan hệ “Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21” giữa hai nước trên cơ sở những nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và Luật pháp Quốc tê. Theo Tuyên bố chung về quan hệ đối tác toàn diện, hai bên nhất trí :
- Mở rộng trao đổi giữa các quan chức chính phủ và các nhà lãnh đạo chính trị giữa hai nước ; gia tăng quy mô thương mại và đầu tư, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp, tài nguyên, công nghệ thông tin, năng lượng.
- Tăng cường giao lưu giữa nhân dân hai nước, giao lưu trên các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, báo chí, học thuật, thể thao và du lịch, giao lưu thanh niên giữa hai nước.
-  Tăng cường hợp tác song phương trong khuôn khổ ASEAN+3, APEC, ASEM và Liên hợp Quốc, WTO.
2. Về kinh tế:
Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam. Trong 15 năm qua (1992-2007), Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh tế quy mô lớn nhất với Việt Nam.
- Hai nước đã thành lập Uỷ ban liên Chính phủ về Hợp tác Kinh tế và Khoa học kỹ thuật Việt Nam - Hàn Quốc để thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương. Từ năm 2006, hai nước đã thiết lập cơ chế trao đổi chính sách thường niên cấp Thứ ngoại giao.
- Hai nước đã ký nhiều hiệp định quan trọng như: Hiệp định hợp tác kinh tế-khoa học kỹ thuật (02/1993), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư-sửa đổi (9/2003), Hiệp định Hàng không, Hiệp định Thương mại (5/1993), Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần (5/1994), Hiệp định Văn hoá (8/1994), Hiệp định Vận tải biển (4/1995), Hiệp định Hải quan (3/1995), Hiệp định về hợp tác du lịch (8/2002), Hiệp định hợp tác dẫn độ tội phạm (9/2003), Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự ( 9/2003), Hiệp định về viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật (4/2005)…
- Về hợp tác phát triển, đến nay, Hàn Quốc đã cấp và cam kết cấp 188 triệu USD tín dụng ưu đãi và viện trợ không hoàn lại 80 triệu USD; quyết định trong giai đoạn 2006-2009 tăng mức cung cấp tín dụng ưu đãi cho Việt Nam lên 100 triệu USD/năm, viện trợ không hoàn lại 9,5 triệu USD/năm.
- Về hợp tác đầu tư, tính đến tháng 5/2007, Hàn Quốc là nước đứng thứ 2 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 1.365 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký trên 8,54 tỷ USD.
- Về thương mại, năm 2006, kim ngạch buôn bán giữa hai nước ước đạt gần 4,71 tỷ USD, gấp 10 lần so với kim ngạch tại thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1992. Hiện nay, Việt Nam đang thúc đẩy Hàn Quốc tìm các giải pháp khắc phục tình trạng nhập siêu của Việt Nam (năm 2006 khoảng 3 tỷ USD).
- Về hợp tác lao động: Hiện nay, Việt Nam có gần 4 vạn lao động đang làm việc tại Hàn Quốc. Người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc cơ bản được đánh giá cao về sự cần cù và khéo léo. Bên cạnh đó, tình trạng lao động bỏ trốn khỏi hợp đồng và cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc vẫn tiếp tục diễn ra nghiêm trọng.
Ngày 25/5/2004, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận mới về đưa lao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luật cấp phép lao động (EPS) của Hàn Quốc. Thoả thuận này sẽ nâng cao địa vị pháp lý và quyền lợi cho người lao động Việt Nam.
- Hợp tác du lịch: Trong vài năm gần đây, Hàn Quốc đã trở thành 1 thị trường cung cấp khách du lịch trọng điểm của Việt Nam. Lượng khách Hàn Quốc vào Việt Nam tăng trung bình 30%/năm, với với 13 vạn lượt năm 2003, hơn 20 vạn năm 2004. Năm 2006, khoảng 42 vạn lượt người Hàn Quốc đã đi Việt Nam, chiếm khoảng 11,7% tổng số khách nước ngoài đến Việt Nam và khoảng 3,62% tổng số người Hàn Quốc ra nước ngoài. 
- Từ ngày 01/7/2004, Việt Nam đã đơn phương miễn visa cho công dân Hàn Quốc nhập cảnh Việt Nam trong vòng 15 ngày với mục đích du lịch.
3. Hợp tác văn hoá - giáo dục:
Hai nước đã ký Hiệp định Văn hoá tháng 8/1994 cùng nhiều thoả thuận hợp tác giao lưu thanh niên và giáo dục khác, thường xuyên có các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật, triển lãm, điện ảnh và công diễn.
Hiện đang có khoảng trên 1.000 sinh viên Việt Nam đang theo học các chương trình ngôn ngữ, cử nhân, cao học tại Hàn Quốc theo nhiều con đường khác nhau như tự túc, học bổng...
4. Giao lưu dân gian:
- Tháng 9/1994 Việt Nam thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc và hiện nay Hội do Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc làm Chủ tịch. Năm 2001 Hàn Quốc thành lập Hội Giao lưu Hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam và hiện nay Hội do nguyên Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Pắc Nô Su làm Chủ tịch.
- Tháng 5/1993 Hàn Quốc thành lập Hội Nghị sỹ hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam. Tháng 5/1995 Việt Nam thành lập Hội nghị sỹ hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc.
- Hiện đang có khoảng 15.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc và sinh sống tại Hàn Quốc và cơ bản được người địa phương quý mến. Chính phủ hai nước cũng như Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc đang có nhiều nỗ lực để hỗ trợ và bảo vệ các phụ nữ Việt Nam trước khi kết hôn và trong quá trình định cư tại Hàn Quốc./.