Thứ năm, ngày 30-10-2014
Công cụ làm việc cá nhân


THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ ĐẠI HÀN DÂN QUỐC VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC

I- CÁC VẤN ĐỀ CHUNG:

- Tên nước:  Đại Hàn Dân Quốc, gọi tắt là Hàn Quốc (Republic of Korea).

- Thủ đô:   Xơ Un (Seoul - 12 triệu người).

- Các thành phố lớn: Busan, Taegu, Taejon, Kwangju, Inchon, Ulsan.

- Vị trí địa lý:  Ở phía Nam bán đảo Triều Tiên, Đông, Tây, Nam giáp biển, Bắc giáp Triều Tiên qua giới tuyến quân sự chạy dọc vĩ tuyến 380 Bắc.

- Diện tích:  99.392 km2 (toàn bán đảo: 222.154 km2)

- Khí hậu:  Khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt.

- Dân số:  Năm 2002 có 47, 640 triệu người.

- Dân tộc:  Chỉ có 1 dân tộc là dân tộc Hàn (Triều Tiên).

- Tôn giáo:  Theo đạo Tin lành, Thiên chúa, Phật giáo,…

- Ngôn ngữ:  Tiếng Hàn Quốc. Chỉ một tiếng nói, một chữ viết.

- Tiền tệ:  Đồng Won (W)

- Quốc khánh:

1) Ngày 15/8/1945: Ngày Giải phóng (của bán đảo Triều Tiên khỏi sự chiếm đóng của Nhật Bản). Nội bộ kỷ niệm long trọng, Tổng thống đọc diễn văn ở mít-tinh trung ương. Tổng thống, Chính phủ nhận điện mừng của Lãnh đạo các nước.

2) Ngày 03/10/2333 Trước Công nguyên: Ngày Lập quốc, còn gọi là lễ Khai thiên. Cơ quan đại diện ở ngoài nước tổ chức chiêu đãi.

- Các nhà lãnh đạo chủ chốt hiện nay:

+ Tổng thống: Rô Mu Hiên (Roh Moo Hyun), từ 25/2/2003.

+ Thủ tướng: Han Tớc Su (Han Duck Soo), (được Quốc hội thông qua 2/4/2007)

+ Chủ tịch Quốc hội: Lim Che Châng (Lim Chae Jung), từ tháng 6/2006.

+ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại: Sông Min Sun (Song Min Soon), từ 1/12/2006.  

II- KHÁI QUÁT LỊCH SỬ, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI:

Bán đảo Triều Tiên có khoảng 5.000 năm lịch sử.

Năm 2333 trước Công nguyên, nước Cổ Triều Tiên (Ko Choson) ra đời, bao gồm cả vùng Mãn Châu, Hoa Đông (Trung Quốc) và bán đảo Triều Tiên. Nhà nước này tồn tại khoảng 1000 năm, liên tiếp bị nhà Chu, nhà Hán xâm lược.

Từ năm 57 trước công nguyên, 3 nhà nước phong kiến mới lần lượt hình thành là Koguryo (bao gồm phía bắc bán đảo và vùng Mãn Châu Trung Quốc), Paekche và Shilla (phía nam bán đảo).

Năm 668, Shilla thôn tính Kokuryo và Paekche, lập nên triều đại Shilla thống nhất bán đảo, kéo dài gần 3 thế kỷ (668-918). Từ 918-1392 vua Wang Kon lập ra nước Koryo (Cao Ly, nhà Vương), lấy Thủ đô là Kaeseong. Từ 1392-1910 vua Ly Song Gye lập ra nước Choson (Triều Tiên, nhà Lý), rời đô về Seoul (1394), vua Sejong (triều vua thứ tư) đã sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Triều Tiên mà ngày nay vẫn đang dùng.

Nước Triều Tiên được thế giới biết đến từ triều đại Koryo. Tên nước Koryo được phiên âm quốc tế thành KOREA.

Năm 1910, Nhật Bản thôn tính Bán đảo Triều Tiên. Năm 1945, Bán đảo Triều Tiên được giải phóng và bị chia cắt, hình thành hai nhà nước theo hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau: phía Nam gọi là Đại Hàn Dân Quốc, tên tiếng Anh là Republic of Korea (ngày 15 tháng 8 năm 1948, Tổng thống là Lý Thừa Vãn) và CHDCND Triều Tiên ở phía Bắc (ngày 09 tháng 9 năm 1948, Chủ tịch nước là Kim Nhật Thành), tên tiếng Anh là Democratic People’s Republic of Korea lấy vĩ tuyến 38o Bắc làm ranh giới. Cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 kết thúc, Mỹ và CHDCND Triều Tiên ký Hiệp định đình chiến..

III- CHÍNH TRỊ:

Thể chế nhà nước: Hiến pháp Hàn Quốc ban hành lần đầu tiên ngày 17/7/1948 quy định Hàn Quốc theo chế độ Cộng hoà, tam quyền phân lập. Quốc hội và Tổng thống do dân bầu trực tiếp, Thủ tướng và Chánh án Toà án tối cao do Tổng thống chỉ định và Quốc hội thông qua (trong vòng 20 ngày).

Sau khi thành lập, các tướng lĩnh quân sự lần lượt nắm quyền lãnh đạo đất nước. Ngày 25/02/1993, lần đầu tiên nhân vật dân sự (Kim Young Sam) lên làm Tổng thống Hàn Quốc, bắt đầu thời kỳ chính phủ dân sự nắm quyền tại Hàn Quốc.

- Quyền Hành pháp: Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp, thực hiện chức năng hành pháp. Tổng thống chỉ giữ một nhiệm kỳ 5 năm.

- Quyền Lập pháp: Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội. Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện, gồm 299 ghế. Nghị sỹ Quốc hội Hàn Quốc được bầu theo nguyên tắc đầu phiếu phổ thông, có nhiệm kỳ 04 năm.

- Quyền Tư pháp: Hàn Quốc thực hiện chế độ tư pháp ba cấp gồm Toà án Tối cao, ba toà Thượng thẩm và các Toà án Quận ở các thành phố lớn. Toà án Tối cao xem xét và thông qua những quyết định cuối cùng những sự chống án đối với các quyết định của các Toà Thượng thẩm, quyết định của Toà án Tối cao là cuối cùng không được kháng án.

Một số chính đảng chủ yếu hiện nay:
Đảng Uri:  Đảng cầm quyền, thân Tổng thống Rô Mu Hiên 
Đảng đối lập Đại dân tộc (GNP): Đảng đối lập chính
Đảng Lao động dân chủ (DLP) 
Đảng Liên minh dân chủ tự do (ULD).

IV- KINH TẾ:

Vốn là một nước nghèo tài nguyên, thị trường trong nước hẹp, tích luỹ trong nước ít, nhưng qua hơn 1/4 thế kỷ, Hàn Quốc đã công nghiệp hoá thành công, trở thành một nước công nghiệp phát triển mới (NICS). Trong giai đoạn 1962-1992, Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 9%. Năm 1996, GDP tính theo đầu người đạt 11.385 USD, là nước thứ hai ở Châu Á (sau Nhật Bản) gia nhập tổ chức kinh tế OECD. Thành công phát triển kinh tế của Hàn Quốc được gọi là "Kỳ tích sông Hàn". Từ một nước có GDP tính theo đầu người năm 1962 chỉ đạt 82 USD, năm 2006 là 20.000 USD.

Thế mạnh của Hàn Quốc là công nghiệp nặng. Dự trữ ngoại tệ đạt hơn 300 tỷ USD. Các thị trường chính của Hàn Quốc là Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản.

Kinh tế Hàn Quốc những năm gần đây phát triển tương đối thuận lợi. Tốc độ phát triển kinh tế năm 2004 đạt 4,7%, năm 2005: 4% và năm 2006 đạt 5.05%.  

GDP năm 2004: 680 tỷ USD và năm 2005: 793.1 tỷ USD.

GDP tính theo đầu người năm 2004: 14.193 USD; 2005: 17.000 USD; 2006: 20.000 USD.

Kim ngạch mậu dịch năm  2004 đạt 478,69 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 254,22 tỷ USD, nhập khẩu 224,47, thặng dư gần 30 tỷ USD; năm 2005 đạt 545,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 284,7 tỷ USD, nhập khẩu 261,2 thặng dư 23,5 tỷ USD; năm 2006, Hàn Quốc vươn lên trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 11 thế giới với 326 tỷ USD xuất khẩu và 309 tỷ USD nhập khẩu.  

Hiện nay, Hàn Quốc đang phấn đấu để trở thành Trung tâm trung chuyển Đông Bắc Á.

V- CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI:

Hàn Quốc là thành viên Liên Hợp Quốc (tháng 9/1991), tham gia Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD năm 1996), là thành viên của WTO, ASEM, APEC... Đến nay, Hàn Quốc đã có quan hệ ngoại giao với 186 nước trong số 191 nước trên thế giới. Hàn Quốc coi trọng quan hệ với các nước đồng minh (Mỹ, Nhật Bản…), quan hệ với các đối tác lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, đồng thời thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế.

- Với Mỹ: Là quan hệ đồng minh. Năm 1954, ký Hiệp ước An ninh chung Hàn - Mỹ. Hiện nay, Mỹ duy trì 27 nghìn quân đóng tại Hàn Quốc, đang có kế hoạch giảm xuống còn 25 nghìn quân trong vài năm tới.

- Với Nhật Bản: Hai nước bình thường hoá quan hệ năm 1965 (Nhật Bản bồi thường cho Hàn Quốc 500 triệu USD); Nhật Bản là bạn hàng và hợp tác kinh tế số 3 của Hàn Quốc. Hai bên nhất trí phát triển quan hệ trong khuôn khổ “hợp tác hướng tới tương lai”.

- Với Trung Quốc: Thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 8/1992. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc. Hàn Quốc coi trọng vai trò của Trung Quốc đối với khu vực, đặc biệt là trong việc giải quyết vấn đề Bán đảo Triều Tiên.

- Với Nga: Năm 1991, Hàn Quốc và Nga thiết lập quan hệ ngoại giao. Hai bên tăng cường phát triển  quan hệ “đối tác toàn diện tin cậy lẫn nhau”, đã ký thoả thuận mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực quan trọng như dầu khí, hàng không, vũ trụ, quân sự,…

- Với ASEAN: Hàn Quốc coi trọng quan hệ với tổ chức ASEAN và các nước Đông Nam Á, hoạt động tích cực trong khuôn khổ cơ chế ASEAN + 1, ASEAN + 3, Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) và Cấp cao Đông Á.

Ngày 21/10/1996, Hàn Quốc trở thành thành viên thứ 29 của OECD (tổ chức của các nước công nghiệp tiên tiến). Hàn Quốc đăng cai Hội nghị thượng đỉnh ASEM III năm 2000, được bầu làm Chủ tịch Đại hội đồng LHQ khoá 56 (9/2001-9/2002), đăng cai chung với Nhật Bản World Cup 2002, đăng cai ASIAD-14 Busan 2002, tổ chức Hội nghị cấp cao APEC 2005.

Năm 2007, Ngoại trưởng Hàn Quốc Ban Ki Mun nhậm chức Tổng Thư ký LHQ.

VI- QUAN HỆ VỚI CHDCND TRIỀU TIÊN:

Chính phủ Hàn Quốc hiện nay chủ trương thực hiện thống nhất Bán đảo Triều Tiên thành một quốc gia, một chế độ theo từng giai đoạn: xây dựng lòng tin, hoà giải hợp tác tiến tới thống nhất đất nước (trong khi đó, từ 1980 Triều Tiên nêu phương án thống nhất là thành lập Liên bang Cao Ly gồm một dân tộc, một quốc gia, hai chế độ, hai chính phủ).

Tổng thống Kim Te Chung lên cầm quyền (ngày 25/2/1998) đưa ra và tích cực thực hiện "Chính sách ánh Dương", chủ trương cùng tồn tại, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác kinh tế và giao lưu nhiều mặt giữa hai miền trên cơ sở duy trì sức mạnh quốc phòng và an ninh của Hàn Quốc.

Từ ngày 13-15/6/2000, Tổng thống Kim Te Chung thăm Bình Nhưỡng, gặp gỡ thượng đỉnh với Tổng Bí thư Kim Châng In. Hai miền ra Tuyên bố chung 5 điểm, thoả thuận vấn đề thống nhất đất nước phải do chính người Triều Tiên giải quyết, thống nhất theo hướng lập Liên bang, giải quyết ngay các vấn đề nhân đạo, tạo sự phát triển cân bằng kinh tế hai miền, tăng cường hợp tác giao lưu trong nhiều lĩnh vực, tiếp xúc thường xuyên giữa các quan chức hai miền. Hai bên đang tích cực thực hiện những thoả thuận này. Đây là cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên giữa hai miền.

Tháng 02/2003, Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên đưa ra chính sách “Hoà bình - Thịnh vượng” đối với Triều Tiên, kế tục và phát huy “Chính sách Ánh dương” của người tiền nhiệm. 4 nguyên tắc cơ bản của chính sách “hoà bình-thịnh vượng” là : Giải quyết tồn tại thông qua đối thoại, hợp tác trên cơ sở tin cậy lẫn nhau và có đi có lại, thúc đẩy hợp tác quốc tế trên nguyên tắc hai miền Triều Tiên đóng vai trò chủ đạo, nâng cao tính minh bạch, mở rộng sự tham dự của nhân dân và tranh thủ sự ủng hộ của các đảng phái.

VII- QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM :

1) Ngày thành lập quan hệ ngoại giao: 22/12/1992

2) Quá trình phát triển quan hệ (những mốc lớn):

Trong chiến tranh Việt Nam, Hàn Quốc đưa 3 vạn quân sang Việt Nam tham gia chiến tranh xâm lược của Mỹ.

Từ 1975-1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian; từ 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi chính phủ.

Ngày 20/4/1992, ký thoả thuận trao đổi Văn phòng liên lạc giữa hai nước.

Ngày 22/12/1992, ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ. Cùng ngày, Hàn Quốc khai trương Đại sứ quán tại Hà Nội.

Ngày 19/11/1993 Hàn Quốc khai trương Tổng lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đoàn Việt Nam thăm Hàn Quốc:

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (tháng 02/1993),
Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 5/1993),
Tổng Bí thư Đỗ Mười (tháng 4/1995),
Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (tháng 3/1998),
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (tháng 8/2000),
Chủ tịch nước Trần Đức Lương (từ 22-25/8/2001), cùng Tổng thống Hàn Quốc   Kim Te Chung ra Tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác mới là “Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21”,
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (từ 29/8-02/9/2002),
Thủ tướng Phan Văn Khải (từ 15-19/9/2003),
Đồng chí Phan Diễn (từ  27/10-01/11/2003),
Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 12/2003),
Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (tháng 6/2004),
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (21-25/7/2004).
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (2-5/5/2005),
Chủ tịch nước Trần Đức Lương dự Hội nghị APEC-13 tại Hàn Quốc tháng 11/2005, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Tổng thống Rô Mu Hiên.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng thăm làm việc tại Hàn Quốc (21-24/5/2007) 

Các đoàn Hàn Quốc thăm Việt Nam:

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lee Sang Ok (ngày 22/12/1992, cùng Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm ký Tuyên bố chung thiết lập Quan hệ Ngoại giao cấp Đại sứ),
Bộ trưởng Ngoại giao Han Sung Joo (tháng 5/1994),
Thủ tướng Lee Young Dug (tháng 8/1994),
Bộ trưởng Ngoại giao Gong Ro Myong (tháng 7/1996),
Chủ tịch Quốc hội Kim Soo Han (tháng 8/1996), 
Tổng thống Kim Young Sam (tháng 11/1996),
Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Park Chung Soo (tháng 7/1998),
Tổng thống Kim Te Chung (tháng 12/1998, thăm chính thức Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao ASEAN-6),
Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Hong Soon Young (tháng 7/1999),
Thủ tướng Ly Han Dong (từ 08-11/4/2002),
Chủ tịch Quốc hội Pac Quan Yêng (từ 30/9-04/10/2003),
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại Yun Yêng Quan (từ 24-26/12/2003),
Chủ nhiệm Uỷ ban Ngoại giao Quốc hội Sơ Châng Hoa (từ 10-14/02/2004),
Tổng thống Rô Mu Hiên (10-12/10/2004),
Thủ tướng Li He Chan (19-21/4/2005),
Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki (14-18/1/2006).
Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên dự Hội nghị APEC-14 tại Hà Nội, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngày 17/11/2006.  

3) Tình hình quan hệ hiện nay:

- Về chính trị: Việc hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao và các cấp, các ngành đã giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường quan hệ hợp tác song phương.    

- Về kinh tế, Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam. Trong 15 năm qua (1992-2007), Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh tế quy mô lớn nhất với Việt Nam. 

+ Hai nước đã thành lập Uỷ ban liên Chính phủ về Hợp tác Kinh tế và Khoa học kỹ thuật Việt Nam - Hàn Quốc để thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương.   

+ Hai bên đã ký nhiều hiệp định quan trọng như: Hiệp định hợp tác kinh tế-khoa học kỹ thuật (02/1993), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư-sửa đổi (9/2003), Hiệp định Hàng không, Hiệp định Thương mại (5/1993), Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần (5/1994), Hiệp định Văn hoá (8/1994), Hiệp định Vận tải biển (4/1995), Hiệp định Hải quan (3/1995), Hiệp định về hợp tác du lịch (8/2002), Hiệp định hợp tác dẫn độ tội phạm (9/2003), Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự ( 9/2003), Hiệp định về viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật (4/2005)…

+ Về hợp tác phát triển, đến nay, Hàn Quốc đã cấp và cam kết cấp 188 triệu USD tín dụng ưu đãi và viện trợ không hoàn lại 80 triệu USD; quyết định trong giai đoạn 2006-2009 tăng mức cung cấp tín dụng ưu đãi cho Việt Nam lên 100 triệu USD/năm, viện trợ không hoàn lại 9,5 triệu USD/năm.   

+ Về hợp tác đầu tư, tính đến tháng 5/2007, Hàn Quốc là nước đứng thứ 2 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 1365 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký trên 8,54 tỷ USD.

+ Về thương mại, năm 2006, kim ngạch buôn bán giữa hai nước ước đạt gần 5 tỷ USD, gấp 10 lần so với kim ngạch tại thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1992. Hiện nay, hai bên đang nỗ lực tìm các giải pháp khắc phục tình trạng nhập siêu của Việt Nam. 

- Về hợp tác lao động: Hiện nay, Việt Nam có gần 40 nghìn lao động đang làm việc tại Hàn Quốc. Ngày 25/5/2004, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận mới về đưa lao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luật cấp phép lao động (EPS) của Hàn Quốc. 

- Hợp tác du lịch: Trong vài năm gần đây, Hàn Quốc đã trở thành 1 thị trường cung cấp khách du lịch trọng điểm của Việt Nam với lượng khách du lịch Hàn Quốc vào Việt Nam tăng trung bình 30%/năm, với 13 vạn lượt khách năm 2003, hơn 20 vạn năm 2004, hơn 40 vạn năm 2006. Từ ngày 01/7/2004, Việt Nam đã đơn phương miễn visa cho công dân Hàn Quốc. 

- Hợp tác văn hoá - giáo dục: Hai nước đã ký Hiệp định Văn hoá tháng 8/1994 cùng nhiều thoả thuận hợp tác giao lưu thanh niên và giáo dục khác, thường xuyên có các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật, triển lãm, điện ảnh và công diễn. Nhiều người Việt Nam đã tốt nghiệp đại học, cao học tại Hàn Quốc.

- Các tổ chức hữu nghị: Tháng 9/1994 Việt Nam thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc.  Năm 2001 Hàn Quốc thành lập Hội Giao lưu Hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam. Tháng 5/1993 Hàn Quốc thành lập Hội Nghị sỹ hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam. Tháng 5/1995 Việt Nam thành lập Hội nghị sỹ hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc./.